Bài viết này được trích từ cuốn sách " Hướng dẫn điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm - Antibiotic essentials " do PGS.TS Nguyễn Đạt Anh Trưởng Bộ môn Cấp cứu Trường Đại học Y Hà Nội chủ biên.
Bài viết cung cấp cho bạn đọc những điểm nhấn và các sai lầm có thể gặp liên quan với sử dụng kháng sinh.



Nội dung đề cập tới các kháng sinh - nhóm kháng sinh gồm:

  1. Penicillin
  2. Ampicillin
  3. Amoxicillin/Acid Clavulanic
  4. Các Penicillin chống tụ cầu dùng đường uống
  5. Các Penicillin chống trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas) đường uống
  6. Các Cephalosporin thế hệ thứ nhất dùng đường tiêm
  7. Các Cephalosporin thế hệ thứ nhất dùng đường uống
  8. Các Cephalosporin thế hệ hai dùng đường tiêm
  9. Các Cephalosporin thế hệ hai dùng đường uống
  10. Các Cephalosporin thế hệ ba dùng đường tiêm
  11. Các Cephalosporin thế hệ ba dùng đường uống
  12. Các Cephalosporin thế hệ thứ tư dùng đường tiêm
  13. Các Cephalosporin chống tụ cầu kháng methicillin có phổ mở rộng dùng đường tiêm
  14. Các Monobactam
  15. Carbapenem
  16. Các dạng bào chế phối hợp với chất ức chế Beta-Lactamase
  17. Tetracyclin
  18. Chloramphenicol
  19. Clindamycin
  20. Các Aminoglycosid
  21. TMP-SMX
  22. Các Quinolon
  23. Nitrofurantoin
  24. Vancomycin
  25. Linezolid
  26. Quinupristin/Dalfopristin
  27. Daptomycin
  28. Tigecyclin
  29. Macrolid
  30. Metronidazol
  31. Telavancin
  32. Fosfomycin
  33. Polymyxin B/Colistin
Trong khuôn khổ bài viết này, sachyhoc.info xin phép trích dẫn một phần trong chương này.


PENICILLIN


•           Penicillin là một kháng sinh không rẻ tiền do tại Hoa Kỳ chỉ có một hãng dược phẩm duy nhất sản xuất thuốc này.
•           Hiện tại, có rất ít chỉ định điều trị bằng penicillin đường tiêm.

•           Phế cầu kháng penicillin (PRSP) được báo cáo có liên quan với sử dụng TMP- SMX và macrolid, song không gặp với penicillin

AMPICILLIN


•           Trừ khi để điều trị các nhiễm khuẩn nặng toàn thân do E. faecalis (Cầu khuẩn ruột nhạy với vancomycin [VSE]), tránh sử dụng ampicillin. Sử dụng ampicillin gây tình trạng gia tàng đề kháng với kháng sinh của E. coli.
•           Cần nhớ rằng, ampicillin là thuốc được ưu tiên chọn dùng để điều trị các nhiễm khuẩn toàn thân nặng do cầu khuẩn ruột nhạy với vancomycin (VSE) gây nên song thuốc không có hiệu guâ để điều trị đối với gần như tất cá các E. faecium (Cầu khuẩn ruột kháng lại vancomycin [VRE]).
•           Do độ nhạy cảm của vi khuẩn phần nào "phụ thuộc vào nồng độ thuốc" không được suy đoán rằng độ nhạy câm của vi khuẩn với ampicillin và độ nhạy câm của vi khuẩn với amoxicillin giống như nhau. Trên cơ sở một liều dùng giống hệt nhau, amoxicillin đạt được nồng độ cao gấp hai lần so với nồng độ ampicillin trong các dịch cơ thể (VD: dịch tai giữa, dịch của xoang, dịch phế quản, nước tiểu).
•           Cần nhớ rằng khác với ampicillin, amoxicillin không thường gây ra tình trạng tưa miệng (nấm candida ở miệng) hoặc ỉa chây kích ứng (irritative diarrhea).

•           Amoxicillin 1 g (uống) mỗi 8 h/lần có thể được dùng trong chế độ chuyển dùng ampicillin từ đường tĩnh mạch sang đường uống do liều dùng này tạo được một nồng độ thuốc trong huyết thanh tương đương với khi dùng ampicillin đường tiêm (tiêm bắp).

AMOXICILLIN/ ACID CLAVULANIC

•           Acid clavulanic là một chất ức chế beta-lactamase, khi phối hợp với amoxicillin, sẽ hồi phục được hoạt tính của thuốc đối với các chủng H. influenzae sản xuất beta-lactamase.
•           Các dạng bào chế mới của amoxicillin/acid clavulanic sẽ ít gây các triệu chứng dạ dày-ruột và ỉa chảy hơn so với các dạng bào chế trước đây của thuốc chứa nhiều clavunat hơn.
•           Thuốc không có hiệu quá đối với phế cầu kháng penicillin (PRSP) do các biến đổi của protein gắn kết với protein (PBPs) mà không trung gian qua ß- lactamase.

PENICILLIN CHỐNG TỤ CẨU DÙNG ĐƯỜNG UỐNG

•           Không được dựa vào các kháng sinh nhóm penicillin chống tụ câu dùng theo đường uống (VD: dicloxacillin) để điều trị các nhiễm khuẩn tụ cầu vàng nhạy với methicillin (MSSA) do hâp thu qua đường tiêu hóa của các thuốc này kém/ thất thường và không có hiệu quá bền vững. Khi điều trị các nhiễm khuẩn tụ cầu vàng nhạy với methicillin (MSSA) đường uống, cephalosporin thế hệ một (VD: cephalexin) được ưu tiên chọn dùng.
•           Dicloxacillin kém được bệnh nhân dung nạp do thuốc gây vị kim loại và ợ hơi.

PENICILLIN CHỐNG PSEUDOMONAS DÙNG ĐƯỜNG UỐNG

• Tránh sử dụng indanyl carbenicillin để điều trị các nhiễm khuân tiết niệu do P aeruginosa do áp dụng điều trị này nhanh chóng làm xuất hiện tình trạng kháng thuốc của P.aeruginosa. Nên sử dụng các thuốc chống P.aeruginosa đường uống khác để điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu thấp do P.aeruginosa (VD: doxycyclin, levofloxacin hoặc fosfomycin).


Xin mời xem tiếp phần II


Cuốn sách hiện được bán với giá 500.000 vnd / 1 cuốn. 

Bạn đọc có nhu cầu mua sách vui lòng đăng ký theo mẫu bên dưới để được hỗ trợ. 


Đăng nhận xét

 
Top